Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, S. 10 (2016)

Cỡ chữ:  Nhỏ  Vừa  Lớn

Sẵn lòng chi trả để cải thiện chất lượng nước ở các làng nghề của Bắc Ninh, Việt Nam

Le Thi Phuong Dung, and Nguyen Huu Dat

Tóm tắt


       Nghiên cứu được tiến hành điều tra 1.000 hộ từ 5 làng nghề trong tổng số 62 làng nghề của tỉnh Bắc Ninh nhằm ước lượng sự sẵn lòng trả của các hộ để nâng cao chất lượng môi trường nước, xác định các yếu tố ảnh hưởng tới mức sẵn lòng trả. Đáp viên được xác định là chủ của hộ gia đình. Sử dụng công cụ ước tính của Turnbull để ước lượng mức sẵn lòng chi trả trung bình. Kết quả nghiên cứu và phân tích cho thấy rằng mức sẵn lòng trả trung bình của các hộ làm nghề truyền thống là 485,273 VND/ hộ/năm. Tổng quỹ tiềm năng có thể thu được từ các hộ này xấp xỉ 6 tỉ VNĐ/năm (268,251 USD/năm) và tổng quỹ thực tế là 3,45 tỉ VNĐ/năm (154,475 USD/năm). Đối với toàn tỉnh Bắc Ninh, tổng quỹ thực tế có thể thu được là 100,2 tỉ VNĐ/năm (4,48 million USD). Trong khi đó, tổng quỹ tiềm năng có thể đạt được lên tới 155,4 tỉ VNĐ/năm (6,9 million USD). Các yếu tố loại hộ (làm nghề hay không làm nghề), quan điểm đánh đổi giữa sự phát triển kinh tế và môi trường, nguồn nước hộ sử dụng, thu nhập của hộ tương quan cùng chiều với sẵn lòng trả và có ý nghĩa thống kê. Điều này có nghĩa là những hộ sản xuất nghề, hộ đồng ý với việc đánh đổi giữa phát triển kinh tế và môi trường, hộ sử dụng nước máy và những hộ có thu nhập cao là những hộ có nhiều khả năng trả lời “đồng ý” với mức giá họ được nhận. Các biến làng nghề, mức giá thầu có tương quan ngược chiều với sẵn lòng trả. Những hộ sống gần với hai con sông đang bị ô nhiễm nặng của tỉnh Bắc Ninh có xu hướng trả lời “đồng ý” trong khi những đáp viên ít có khuynh hướng đồng ý nếu họ nhận được các mức giá thầu cao.

Toàn văn: PDF

Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, ISSN: 1859-0004